Xử phạt tội trộm cắp tài sản

Ông xã tôi chơi game cần tiền nên đã nảy sinh ý định và ăn cắp 2 chiếc điện thoại iphone của 2 đứa cháu ruột chung nhà. Vì không biết là người trong nhà lấy nên cháu tôi đã lên công an trình báo sự việc trên.Qua quá trình điều tra công an đã biết được chồng tôi là người lấy và đưa ra tòa án chờ ngày xét xử. Giá trị của hai chiếc điện thoại được xác định là 8.200.000 đồng. Ông xã tôi đã tự thú và trả lại điện thoại cho hai đứa cháu và hai đứa cháu tôi cũng xin không truy cứu trách nhiệm hình sự chồng tôi. Tôi thật sự lo lắng không biết chồng tôi sẽ bị xử như thế nào?

 

 

Đối với trường hợp của chồng bạn, căn cứ theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định về tội trộm cắp tài sản:

  1. “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.”

Ở đây, hành vi vi phạm của chồng bạn là trộm cắp tài sản có giá trị được xác định là 8.200.000 đồng nằm trong khung quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự 2015 và mức phạt đưa ra đối với chồng bạn là phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Tuy nhiên, do chồng chị đã tự giác ra đầu thú nên căn cứ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ có quy định:

  1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

Như vậy, chồng bạn sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ vụ án, việc mức hình phạt áp dụng là bao nhiêu sẽ do tòa án quyết định căn cứ vào tình hình thực tế. Về việc cháu của bạn xin không truy cứu trách nhiệm hình sự cho chồng bạn sẽ không được chấp nhận. Nguyên tắc xét cử của luật hình sự không áp dụng hình thức thỏa thuận như Luật dân sự vì vậy người bị hai không có quyền xin tòa án không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Tuy nhiên, đây vẫn được xem là một tình tiết để Tòa án có thể cân nhắc đưa ra hình phạt phù hợp nhất đối với chồng bạn.