Xử lý vi phạm lừa bạn vay tiền

Ngày 25/7/2013, bạn tôi có hỏi vay 25 triệu đồng để chữa bệnh cho bố vì bố bị ung thư nặng lắm rồi. Và hứa sẽ trả vào tháng 10 khi thu xếp được, và trả lãi nữa. Sau đó tôi đã cho bạn tôi vay. Nhưng mãi cho đến nay đã được 5 tháng người bạn đó vẫn chưa trả tôi và khất lần mãi. Gần đây thì mất liên lạc hẳn. Hỏi ra mới biết người bạn đó vay tiền để chơi lô đề. Xin hỏi làm thế nào tôi có thể lấy lại được tiền và người bạn đó phải chịu tội gì?

 

Vì bạn cung cấp thông tin chưa đầy đủ nên chúng tôi sẽ chia làm 2 trường hợp

Thứ nhất : Với trường hợp bố bạn của bạn bị bệnh thật, tuy nhiên bạn của bạn vay tiền với mục đích chơi lô đề thì hành vi của bạn của bạn đã vi phạm về hợp đồng vay tài sản.

Vì đã quá hạn 5 tháng mà bạn của bạn không thanh toán được cả gốc và lãi. Để bảo vệ quyền lợi của mình bạn có thể khởi kiện ra tòa án căn cứ theo khoản 3 điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 để có thể đòi lại được khoản tiền mà bạn cho vay cộng với lãi suất và nếu có thiệt hại xảy ra thì có thể cả bồi thường thiệt hại. Cụ thể là gửi đơn khởi kiện lên Tòa án cấp huyện nơi mà bạn đang sinh sống

Thứ hai : Trường hợp Bố bạn của bạn không hề bị bệnh, và bạn của bạn đã lợi dụng lòng tốt của bạn nhằm chiếm đoạt số tiền 25 triệu kia.

–  Hành vi của bạn của bạn đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm có thể là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản (theo Điều 174) nếu như bạn của bạn ngay từ đầu đã có ý định lừa bạn hoặc cũng có thể là hành vi lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 ) nếu như sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Tùy theo tính chất cũng như mức độ của hành vi phạm tội mà bạn của bạn sẽ bị xử theo khung hình phạt tương ứng.

–  Để bảo vệ quyền lợi của mình bạn cần làm đơn tố giác hành vi phạm tội này đến Cơ quan công an, kèm theo đó là cung cấp các tài liệu, chứng cứ có liên quan.

1. Về mức xử phạt hành chính:

Hành vi của sinh viên đó có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015. Cụ thể:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

…”

Như vậy, nếu đưa đơn ra tòa, bị cáo sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Về việc người vay không có khả năng trả nợ:

Khi bạn cho người sinh viên đó vay tiền và có giấy nợ cũng như bản photo chứng minh thư để đảm bảo, giữa hai người đã giao kết hợp đồng vay tài sản. Vì vậy căn cứ theo Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý…”

Bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố hành vi của người vay tiền khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ thì căn cứ theo Điều 351 Bộ luật dân sư 2015 về vi phạm nghĩa vụ dân sự :

Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.”

Trong trường hợp này nếu bên vay không có bất kỳ một tài sản nào để có thể thanh toán khoản nợ vay cũng như chứng minh được bên vay không hề phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bên cho vay sẽ phải hoàn toàn chịu rủi ro.