Xử lý tài sản riêng của vợ, chồng sau khi ly hôn

Câu hỏi:

Tôi kết hôn cách đây 10 năm và đã có một con gái 9 tuổi. Trong một lần cãi nhau chồng tôi đã đuổi mẹ con tôi ra khỏi nhà và làm đơn ly hôn. Căn nhà hiện nay là tài sản riêng của chồng tôi do cha mẹ để lại, sau khi kết hôn cha mẹ tôi có cho tôi một số tiền để trả nợ, xin việc cho chồng, sửa chữa nhà ở và chi tiêu. Hai vợ chồng tôi mỗi người có đứng tên vay một số tiền nợ ngang nhau và được chia đôi đứng tên ai vay người đó trả. Vậy xin hỏi sau khi ly hôn, căn nhà thuộc về chồng tôi còn số tiền cha mẹ tôi cho để sửa chữa nhà có được đền bù không ? Và tôi nên chứng minh tài sản đó như thế nào ?

 

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ, chồng khi ly hôn:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ, chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp tài sản của vợ, chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết”.

Theo quy định này, thì tùy vào một trong hai trường hợp thì việc giải quyết tài sản của vợ, chồng sẽ được áp dụng tương ứng có thể là theo thuận của hai vợ chồng, yêu cầu Tòa án giải quyết,…Đối với trường hợp của chị Hằng nếu tài sản trên thuộc về chế độ tài sản theo luật định thì chị và chồng chị có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết như thế nào hoặc có thể yêu cầu Tòa án giải quyết khi không thỏa thuận được. Còn nếu chế độ tài sản thuộc về trường hợp theo thỏa thuận thì sẽ áp dụng theo thỏa thuận đó để giải quyết, nếu thỏa thuận không đầy đủ và rõ ràng thì áp dụng theo quy định đã nêu tại ý 2 của Khoản 1 Điều này.

Bên cạnh đó, tại Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng như sau:

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của vợ, chồng.”

Như vậy, căn cứ vào những quy định trên thì vợ, chồng là người có quyền định đoạt đối với tài sản riêng của mình. Trong trường hợp của chị thì số tiền mà chị nhận được từ bố mẹ chị là tài sản riêng của chị được cho và chị có toàn quyền quyết định đối với tài sản đó, theo đó, chị đã đem số tiền này sử dụng vào việc sửa nhà, xin việc cho chồng, chi tiêu hàng ngày,…do đó có thể hiểu rằng chị và chồng mình cũng đã có sự thỏa thuận trong việc sử dụng số tiền này.

Tuy nhiên, sau khi ly hôn thì nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó (Khoản 3) và hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của vợ, chồng (Khoản 4) vì vậy trường hợp của chị chúng tôi cho rằng chị sẽ nhận được một khoản tiền thanh toán tương ứng vì đó cũng có một phần tài sản riêng mà chị đã góp công sức tạo nên và chị còn đang nuôi con gái nhưng việc thanh toán như thế nào chúng tôi cho rằng trước tiên cần có sự thỏa thuận của hai vợ chồng nếu không thể thỏa thuận được thì chị có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tiếp đó, theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tài sản riêng của vợ chồng thì:

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và các tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Căn cứ vào quy định này và căn cứ vào tình huống chị đã đưa thì có thể thấy rằng tài sản riêng của chồng chị là căn nhà được thừa hưởng do bố mẹ cho và đó là tài sản riêng của chồng chị. Còn số tiền chị được bố mẹ mình cho là tài sản riêng của chị. Tuy nhiên, do chị đã đem số tiền đó vào nhập với tài sản riêng của chồng mình (tu sửa nhà) và do chị cũng không đề cập rằng hai vợ chống đã có thỏa thuận ra sao về vấn đề này cũng như không hề có đề cập đến việc ngôi nhà đã được thỏa thuận là tài sản chung hay chưa nên chúng tôi cho rằng để chứng minh được thì chị cần phải chứng minh được số tiền đó là tài sản chị có trước khi kết hôn, có thể là được thừa kế hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân,…là tài sản phục vụ thiết yếu của chị thuộc sở hữu riêng của chị và đã được đem hòa nhập vào tài sản khác trong thời kỳ hôn nhân bên cạnh đó chị cũng đang nuôi con đi học,…

Như vậy, căn cứ vào những điều luật đã nêu, thì chị có thể đòi lại một khoản đền bù theo sự thỏa thuận của hai bên và việc chị cần làm là phải chứng minh được nguồn tài sản đó thuộc sở hữu riêng của mình và do mình góp công sức tạo nên nguồn tài sản khác trong thời kỳ hôn nhân thu lại hoa lợi, lợi tức đáp ứng nhu cầu cuộc sống của cả gia đình tuy nhiên chị cần lưu ý rằng cần có sự tách bạch và rõ ràng rằng ngay từ đầu ngôi nhà kia vẫn thuộc sở hữu riêng của chồng chị và hai bên chưa hề thỏa thuận đó là tài sản chung của hai vợ chồng. Còn nếu trước đó đã có sự thỏa thuận về việc tài sản riêng nhập vào tài sản chung (vì số tiền cũng phục vụ nhu cầu sinh hoạt chung của cả hai vợ chồng) thì sẽ áp dụng Khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết.

Viết một bình luận