Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được xác định tuổi mà người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm hình sự, phải tính theo tuổi tròn (tức là đủ tuổi); dù thiếu một ngày cũng coi như chưa đủ tuổi tròn (trong trường hợp xác định được chính xác ngày sinh)

 

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự năm 2015

  1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

  2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Điều luật này được xác định tuổi mà người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm hình sự, phải tính theo tuổi tròn (tức là đủ tuổi); dù thiếu một ngày cũng coi như chưa đủ tuổi tròn (trong trường hợp xác định được chính xác ngày sinh).

Cơ quan Tiến hành Tố tụng phải có biện pháp để xác định đúng tuổi (ngày, tháng, năm sinh) của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự đến ngày thực hiện tội phạm.

Theo khoản 1 của Điều luật, người từ đủ 16 tuổi trở lên nhưng chưa đủ mười tám tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm do họ gây ra. Tuy nhiên đối với những trường hợp khác như chủ thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, tội tảo hôn, tội giao cấu với trẻ em, chủ thể lại phải là người đã đủ mười tám tuổi, chứ không thể là người chưa thành niên.

Theo khoản 2 của Điều luật, người từ đủ mười bốn tuổi trở lên nhưng chưa đủ mười tám tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng theo Điểu 8 khoản 3, tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đốì với tội ấy là đến mười lăm năm tù. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.