Trách nhiệm của chồng đối với con riêng của vợ

Nội dung bài viết:

Vợ chồng tôi kết hôn được 2 năm nay, đứa con hiện đã được hơn 1 tuổi và việc kết hơn dựa trên sự bình đẳng và theo đúng quy định của pháp luật. Đến giờ tôi phát hiện ra đứa con không phải là con của tôi, tôi bị người vợ lừa dối trong suốt thời gian qua. Luật sư cho tôi hỏi, con sinh ra không phải là của người cha thì người vợ có phạm tội gì không, pháp luật có quy định về vấn đề này không? Và tôi có phải chịu trách nhiệm gì với đứa trẻ này không?

 

 

Thứ nhất: Về việc người vợ có phạm tội hay không?

Theo quy định tại Điều 88  Luật hôn nhân và gia đình 2014 về xác định cha, mẹ:

 

  1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

  1. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”

Căn cứ vào quy định trên, mọi đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân đều được pháp luật công nhận là con chung của cả hai vợ chồng. Trong trường hợp anh không thừa nhận con thì anh phải làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi anh đang thường trú. Kèm theo đơn bạn phải cung cấp các chứng cứ cho Tòa án để Tòa án xem xét việc từ chối nhận con của anh là có cơ sở. Pháp luật Việt Nam hiện nay không có quy định về trường hợp xử lý vi phạm của vợ hoặc chồng đối với vấn đề này.

 

Thứ hai: Về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ:

Theo quy định tại Điều 69  Luật hôn nhân và gia đình 2014 về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ:

 

  1. “Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

  2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

  3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

  4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.”

 

Căn cứ vào quy định này, trong trường hợp hai vợ chồng có kết hôn hợp pháp, con sinh ra không phải là con của người cha nhưng người cha vẫn phải có trách nhiệm chăm sóc, yêu thương, nuôi dưỡng và không được phân biệt đối xử giữa các con.