Thủ tục giành lại quyền nuôi con

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp có thể thực hiện thủ tục giành lại quyền nuôi con và yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Bài viết dưới đây là cập nhật mới nhất của chúng tôi về thủ tục giành lại quyền nuôi con.

 

1. Cơ sở pháp lý

Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19 tháng 06 năm 2014.

2. Quy định về người có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi con

Theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được quy định như sau:

  • Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
  • Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
  • Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

3. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
  • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

(Theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014)

4. Thủ tục giành lại quyền nuôi con

Khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện  nuôi con theo quy định của pháp luật, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền thực hiện thủ tục giành lại quyền nuôi con bằng cách yêu cầu tòa án quyết định thay đổi người nuôi con. Cụ thể như sau:

“Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

(Theo khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014)

Ngoài ra, pháp luật hôn nhân và gia đình còn cho phép các cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

“Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 84 thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.”

5. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

  • Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

  • Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

6. Xác định con chung

Theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, con chung của vợ chồng được xác định như sau:

  • Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
  • Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
  • Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

7. Cha mẹ có được từ chối nhận con không?

Theo quy định của pháp luật, người được xác định là cha, mẹ của con có quyền từ chối nhận con. Khi đó, người được xác nhận là cha, mẹ của con phải cung cấp chứng cứ và phải được công nhận bởi Tòa án có thẩm quyền. Cụ thể khoản 2 Điều 88 và khoản 2 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình quy định như sau: “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.” và “Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.”

8. Quyền nhận cha, mẹ của con và quyền nhận con của cha, mẹ

  • Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.
  • Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha.
  • Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.
  • Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia.

(Theo Điều 90, 91 Luật hôn nhân và gia đình 2014)

 

9. Thủ tục giành lại quyền nuôi con tại ACC Group.

ACC Group là công ty chuyên cung cấp dịch vụ hướng dẫn thủ tục giành lại quyền nuôi con. Trình tự ACC Group thực hiện như sau:

  • Thu thập thông tin từ khách hàng để tiến hành tư vấn một cách chi tiết và cụ thể;
  • Hướng dẫn khách hàng chuẩn bị các hồ sơ, thông tin cơ bản để ACC có thể thực hiện các thủ tục;
  • ACC tiến hành các thủ tục khi đã nhận đủ hồ sơ khách hàng cung cấp;
  • Tư vấn cho khách hàng những điều cần lưu ý khi thực hiện thủ tục;
  • Bàn giao kết quả.

Trên đây là quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục giành lại quyền nuôi con. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính bản thân mình, các bên cần tìm hiểu kỹ các quy định pháp luật, trình tự thủ tục thực hiện thủ tục nêu trên.

Viết một bình luận