Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Điều 78 Bộ luật lao động quy định thỏa ước lao động tập thể vô hiệu trong hai trường hợp: vô hiệu từng phần và vô hiệu toàn bộ.

1. Quy định của pháp luật lao động về thoả ước lao động tập thể vô hiệu

Theo quy định Điều 78 Bộ luật lao động 2012 về thoả ước lao động tập thể vô hiệu

“1. Thoả ước lao động tập thể vô hiệu từng phần khi một hoặc một số nội dung trong thoả ước trái pháp luật.

2. Thoả ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a, Có toàn bộ nội dung trái pháp luật;

b, Người ký kết không đúng thẩm quyền;

c, Việc ký kết không đúng quy trình thương lượng tập thể.”

2. Bình luận về quy định tại điều 78 Bộ luật lao động:

Thoả ước lao động tập thể vô hiệu được hiểu là thỏa ước lao động tập thể có một, một số nội dung hoặc toàn bộ nội dung trái pháp luật hoặc không bảo đảm các điều kiện của pháp luật.

Điều 78 quy định thỏa ước lao động tập thể vô hiệu trong hai trường hợp: vô hiệu từng phần khi một hoặc một số nội dung trong thỏa ước trái pháp luật và vô hiệu toàn bộ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1) Có toàn bộ nội dung trái pháp luật, quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động không có lợi hơn so với quy định của pháp luật và nội dung đó không phù hợp với quy định của pháp luật;

2) Người ký kết không đúng thẩm quyền, tức là chủ thể ký kết thỏa ước lao động tập thể không tuân theo quy định tại khoản 1 Điều 74, khoản 1 Điều 83 hoặc khoản 1 Điều 87 của Bộ luật;

3) Việc ký kết không đúng quy trình thương lượng tập thể, tức là không tuân theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật.

Việc một thoả ước lao động tập thể bị vô hiệu toàn bộ khi có toàn bộ nội dung trái pháp luật cơ bản đúng về khía cạnh lý thuyết, vì trong thực tế thì rất hiếm trường hợp có một thoả ước lao động tập thể không có một điều khoản nào đúng pháp luật, hay nói cách khác là hoàn toàn trái luật.

Điều cần nói là, Bộ luật không cho rằng việc vi phạm nguyên tắc ký kết là lý do tuyên bố một thoả ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ, trong khi đó chính là vấn đề rất hệ trọng. Ví dụ, thoả ước được ký kết trong tình trạng một bên cưỡng bức bên kia phải ký hoặc hứa hẹn, lừa dối để bên kia ký kết…Việc vi phạm mang tính hình thức (người ký kết không đúng thẩm quyền) thì được coi là điều hệ trọng để tuyên bố vô hiệu, trái lại việc vi phạm nguyên tắc ký kết lại bị coi nhẹ, không phải là lý do để tuyên thoả ước vô hiệu là chưa thực sự khoa học và không phù hợp với thực tiễn. Do vậy, cần bổ sung thêm trường hợp thỏa ước lao động tập thể vô hiệu toàn bộ khi vi phạm nguyên tắc thương lượng tập thể.