Tài sản bảo lãnh của bên thứ ba

Câu hỏi:

Ở địa phương tôi có xảy ra một trường hợp thế này:  Một dự án vay vốn đã chuyển sang nợ quá hạn và chủ của dự án đó đã bỏ trốn khỏi địa phương. Vậy xin hỏi tài sản của bên thứ 3 là bên bảo lãnh sẽ được xử lý như thế nào?

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về lĩnh vực pháp luật dân sự. Chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Thứ nhất: về việc xử lý tài sản bảo đảm

Căn cứ theo quy định tại Điều 335 Bộ luật Dân sự 2015  quy định về bảo lãnh như sau:

“Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.”

Như vậy, khi người vay vốn không trả nợ đúng cam kết thì người bảo lãnh tức bên thứ 3 phải trả nợ thay.

Theo quy định tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm thì ngân hàng có quyền thoả thuận với người bảo lãnh về việc xử lý tài sản bảo đảm, nếu không xử lý được thì giao tài sản cho cơ quan có thẩm quyền bán đấu giá bán tài sản, nếu các bên có tranh chấp thì ngân hàng có quyền khởi kiện ra toà.

Căn cứ theo quy định tại Điều 340 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:” Khi bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi bảo lãnh, nếu không có thoả thuận khác”. Do đó có thể hiểu là khi người bảo lãnh đã thực hiện trách nhiệm bảo lãnh thì có quyền yêu cầu người được bảo lãnh thanh toán cho mình số tiền bảo lãnh.

 

Thứ hai: về hành vi chủ dự án bỏ trốn khỏi địa phương

Căn cứ theo quy định tại điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

  1. “Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Như vậy có thể thấy, hành vi trốn khỏi địa phương của chủ dự án để trốn tránh việc trả nợ đã đủ dấu hiệu để cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Do đó ngân hàng hoặc người bảo lãnh có quyền tố cáo ra cơ quan công an để truy cứu trách nhiệm hình sự của người này.