Tái phạm hành vi trộm cắp tài sản

Nội dung bài viết:

Chồng tôi trước đây đã bị phạt tù một năm về tội trộm cắp tài sản và ra tù vào tháng 10 năm 2014 nhưng chưa được xóa án tích. Mới đây, chồng tôi đã lấy trộm một chiếc xe máy của nhà hàng xóm trị giá khoảng 20 triệu. Hiện tại thì chồng tôi đã bị phát hiện và đang bị tạm giữ. Chồng tôi sẽ bị xử lý và chịu mức hình phạt như thế nào? Liệu chồng tôi có bị đi tù lại không?

 

Thứ nhất: về Tội trộm cắp tài sản.

Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 về Tội trộm cắp tài sản được quy định như sau:

  1. “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

  1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

g) Tái phạm nguy hiểm.

  1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

  1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

  1. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Thứ hai: về hành vi Tái phạm.

Theo quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự 2015 về Tái phạm, tái phạm nguy hiểm như sau:

  1. “Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

  2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.”

Theo như chị cho biết, chồng chị trước đây đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản và chưa được xóa án tích bây giờ lại thực hiện hành vi trộm cắp với lỗi cố ý nên trường hợp phạm tội lần này của chồng chị được xem xét theo quy định nêu trên là tái phạm.

Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên, chồng chị sẽ bị kết án là phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.