Quyền ủy quyền của tổng giám đốc

Tôi được một Công ty cổ phần A thuê làm Giám đốc đồng thời là người đại diện theo pháp luật của công ty. Do một số lý do chủ quan và khách quan nên tôi phải đi công tác nước ngoài dài ngày và để phát huy hết trách nhiệm, vai trò của một Giám đốc nhằm đảm bảo quyền lợi tối đa cho một người lao động được quy định trong hợp đồng thuê Giám đốc, tôi muốn ủy quyền cho người khác thay tôi đảm trách vị trí Giám đốc trong một thời gian nhất định. Xin hỏi, pháp luật có cho phép? Thủ tục thực hiện ra sao?

Vấn đề ủy quyền của pháp nhân được quy định trong Luật Dân sự tại các điều 86, 91, 139, 142,143, 144, 148 và trong Luật Doanh nghiệp 2005 tại điều 95 “Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú ở Việt Nam; trường hợp vắng mặt trên ba mươi ngày ở Việt Nam thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nhiệm vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty”.
Thông thường, nội dung ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cũng được quy định tại điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp đó, trong trường hợp Điều lệ không có quy định thì vấn đề đại diện vẫn có thể được thực hiện căn cứ vào các quy định của pháp luật.
Về thủ tục, bạn có thể phát hành văn bản ủy quyền cho những người có đủ năng lực để thay mặt mình thực hiện quyền điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng ngày của công ty trong thời gian bạn đi vắng, nội dung về cơ bản có thể gồm:
– Ngày tháng, địa điểm lập văn bản ủy quyền,
– Nội dung, phạm vi ủy quyền,
– Việc ủy quyền lại cho người thứ ba (nếu có),
– Chấm dứt ủy quyền, hiệu lực của văn bản ủy quyền, trách nhiệm của người được ủy quyền….
Tùy trường hợp Điều lệ quy định, văn bản ủy quyền nên được gửi Hội đồng quản trị/Ban kiểm soát công ty (để thông báo/báo cáo) và các Bộ phận trong công ty (để thực hiện).

Điều 86. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân

1. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình.

2. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp nhân được thành lập và chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân.

3. Người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân nhân danh pháp nhân trong quan hệ dân sự.

Điều 91. Đại diện của pháp nhân

1. Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Người đại diện của pháp nhân phải tuân theo quy định về đại diện tại Chương VII, Phần thứ nhất của Bộ luật này.

2. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.

Điều 139. Đại diện

1. Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

2. Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.

3. Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo ủy quyền.

4. Người được đại diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập.

5. Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 của Bộ luật này.