Phân biệt bản đồ hành chính với hồ sơ địa giới hành chính

Câu hỏi: Cho em hỏi: Bản đồ hành chính khác với hồ sơ địa giới hành chính như thế nào theo quy định của pháp luật hiện hành?

Trả lời:

Hiện nay, bản đồ hành chính và hồ sơ địa giới hành chính là hai tài liệu quan trọng liên quan đến đất đai của bất kỳ địa phương nào. Tuy nhiên, nhiều người vẫn nhầm lần hai loại tài liệu này với nhau trên thực tế.

Với câu hỏi: “Phân biệt bản đồ hành chính với hồ sơ địa giới hành chính?” chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất: Khác nhau về tiêu chí khái niệm và nội dung: 

Khoản 3 Điều 29 Luật đất đai 2013 quy định về Hồ sơ địa giới hành chính như sau: “Hồ sơ địa giới hành chính bao gồm tài liệu dạng giấy, dạng số thể hiện thông tin về việc thành lập, điều chỉnh đơn vị hành chính và các mốc địa giới, đường địa giới của đơn vị hành chính đó”.

Khoản 1 Điều 30 Luật đất đai 2013 quy định về Bản đồ hành chính như sau: “Bản đồ hành chính của địa phương nào thì được lập trên cơ sở bản đồ địa giới hành chính của địa phương đó”.

Hồ sơ địa giới hành chính bao gồm:

+ Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc thành lập đơn vị hành chính hoặc điều chỉnh địa giới hành chính (nếu có);

+ Bản đồ địa giới hành chính;

+ Sơ đồ vị trí các mốc địa giới hành chính;

+ Bảng tọa độ các mốc địa giới hành chính, các điểm đặc trưng trên đường địa giới hành chính;

+ Bản mô tả tình hình chung về địa giới hành chính;

+ Biên bản xác nhận mô tả đường địa giới hành chính;

+ Phiếu thống kê về các yếu tố địa lý có liên quan đến địa giới hành chính;

+ Thống kê các tài liệu về địa giới hành chính của các đơn vị hành chính cấp dưới.

Như vậy, trên cơ sở Bản đồ địa giới hành chính – một thành phần của Hồ sơ địa giới hành chính, Bản đồ hành chính của địa phương được xây dựng.

Bản đồ hành chính là bản đồ chuyên đề có yếu tố chuyên môn thể hiện sự phân chia lãnh thổ và quản lý đơn vị hành chính. Theo phân cấp thì có 3 loại là bản đồ hành chính toàn quốc, bản đồ hành chính cấp tỉnh và bản đồ hành chính cấp huyện (Điều 3, 4 Thông tư số 47/2014/TT-BTNMT ngày 22/8/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật thành lập bản đồ hành chính các cấp).

Nội dung của Bản đồ hành chính bao gồm các yếu tố: yếu tố cơ sở toán học như khung bản đồ; lưới kinh tuyến vĩ tuyến; các điểm tọa độ, độ cao quốc gia; ghi chú tỷ lệ, thước tỷ lệ; yếu tố chuyên môn gồm biên giới quốc gia và địa giới hành chính; yếu tố nền địa lý như thủy văn; địa hình; dân cư; kinh tế – xã hội; giao thông.

Thứ hai: Khác nhau về thẩm quyền:

– Hồ sơ địa giới hành chính cấp dưới do ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp xác nhận; hồ sơ địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Bộ Nội vụ xác nhận.

Hồ sơ địa giới hành chính cấp nào được lưu trữ tại ủy ban nhân dân cấp đó và ủy ban nhân dân cấp trên, Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường (khoản 3 Điều 29 Luật đất đai 2013).

– Bản đồ hành chính: Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo và hướng dẫn việc lập bản đồ hành chính các cấp trong phạm vi cả nước và tổ chức thực hiện việc lập bản đồ hành chính toàn quốc, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện việc lập bản đồ hành chính huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (khoản 2 Điều 30 Luật đất đai 2013).