Nhượng quyền thương mại

Nhượng quyền thương mại (franchise) là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện nhất định. Hợp đồng nhượng quyền thương mại là hợp đồng hướng dẫn doanh nghiệp sử dụng một sản phẩm hoặc một quy trình hoạt động là một đối tượng sở hữu công nghiệp và đang được bảo hộ. Nhượng quyền thương mại liên quan đến chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu hàng hóa hoặc các đối tượng sở hữu trí tuệ khác.

Điều kiện thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại

Điều kiện đối với Bên nhượng quyền

Thương nhân được phép cấp quyền thương mại khi hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã được hoạt động ít nhất 01 năm

Lưu ý:

Theo quy định của Nghị định 08/2018/NĐ-CP mới nhất đã bãi bỏ quy định về điều kiện đối với Bên nhận quyền và quy định về hàng hóa, dịch vụ được phép kinh doanh nhượng quyền thương mại.

Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Nội dung của quyền thương mại.
Quyền, nghĩa vụ của Bên nhượng quyền.
Quyền, nghĩa vụ của Bên nhận quyền.
Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán.
Thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
Gia hạn, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp.
Lưu ý:

Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được lập bằng tiếng Việt. Trường hợp nhượng quyền từ Việt Nam ra nước ngoài, ngôn ngữ của hợp đồng nhượng quyền thương mại do các bên thoả thuận.

Về quan điểm pháp lý: mặc dù hoạt động nhượng quyền thương mại đã xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1990 nhưng pháp luật Việt Nam thời kỳ này chưa có khung pháp lý điều chỉnh riêng hoạt động NQTM. Ở thời điểm này các hoạt động mang bản chất NQTM được điều chỉnh bởi pháp luật về chuyển giao công nghệ, pháp luật về hợp đồng lixang và pháp luật về sở hữu trí tuệ . Đến khi Luật thương mại 2005 ra đời đã chính thức ghi nhận NQTM là một hoạt động thương mại độc lập chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại và có những quy định riêng tại mục 8 Luật này. Tiếp đó là các văn bản hướng dẫn: Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại; Thông tư 09/2006/TT-BTM ngày 25/5/2006 của Bộ Thương mại hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại và Quyết định 106/2008/QĐ-BTC ngày 17/11/2008 của Bộ Tài chính về việc quy định mức thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại. Với luật thương mại 2005 Việt Nam trở thành một trong khoảng 33 quốc gia có pháp luật riêng điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại.

Về quan điểm pháp lý: mặc dù hoạt động nhượng quyền thương mại đã xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1990 nhưng pháp luật Việt Nam thời kỳ này chưa có khung pháp lý điều chỉnh riêng hoạt động NQTM. Ở thời điểm này các hoạt động mang bản chất NQTM được điều chỉnh bởi pháp luật về chuyển giao công nghệ, pháp luật về hợp đồng lixang và pháp luật về sở hữu trí tuệ . Đến khi Luật thương mại 2005 ra đời đã chính thức ghi nhận NQTM là một hoạt động thương mại độc lập chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại và có những quy định riêng tại mục 8 Luật này. Tiếp đó là các văn bản hướng dẫn: Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại; Thông tư 09/2006/TT-BTM ngày 25/5/2006 của Bộ Thương mại hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại và Quyết định 106/2008/QĐ-BTC ngày 17/11/2008 của Bộ Tài chính về việc quy định mức thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại. Với luật thương mại 2005 Việt Nam trở thành một trong khoảng 33 quốc gia có pháp luật riêng điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại.

Viết một bình luận