Lập di chúc đối với tài sản chung

Ông bà tôi có tài sản chung là ngôi nhà do ông và bà đứng tên. Bà tôi mất đột ngột nên không để lại di chúc. Giờ ông tôi có làm di chúc để lại toàn bộ tài sản là ngôi nhà đó cho chú tôi. Vậy  ông tôi viết di chúc để lại toàn bộ ngôi nhà cho chú tôi là có đúng không?

Thứ nhất:

– Tại Điều 624 Bộ luât dân sự năm 2015 quy định:“Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

– Và tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định di chúc được coi là hợp pháp khi có đủ các điều kiện sau đây: “a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật”.

Như vậy, ông bạn có quyền lập di chúc đối với tài sản của mình và di chúc được hợp pháp khi thỏa mãn điều kiện nêu ở trên.

Thứ hai:

Trường hợp của bạn cần lưu ý đến nội dung di sản được thể hiện trong di chúc do ông của bạn lập. Tại Ðiều 612 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”. Vậy nên, tài sản mà bạn nêu thuộc tài sản chung của ông bà, nên ông có quyền làm di chúc để lại di sản thừa kế cho con cháu mình trong khối tài sản chung.

Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật thì trong trường hợp của bạn, nếu như ông làm di chúc cho chú của bạn toàn bộ ngôi nhà thì di chúc đó không hợp pháp. Ông bạn chỉ có quyền để lại di sản cho chú bạn trong phạm vi số tài sản chung của ông với bà.

Điều 624 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015) quy định về di chúc như sau:

“Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết“.

Điều 625 BLDS 2015 quy định về Người lập di chúc như sau:

“1. Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.”

Điều 630 BLDS 2015 quy định về di chúc hợp pháp như sau:

“1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.”

Như vậy, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân người để lại tài sản cho người khác trước khi chết. Nếu đủ điều kiện để lập di chúc theo quy định nêu trên thì người lập di chúc có thể chỉ định người thừa kế và phân định tài sản của mình mà không cần sự đồng ý của bất kỳ ai. Di chúc của bà bạn nếu là định đoạt tài sản của riêng người bà bạn thì sẽ không cần phải có sự họp mặt và xin ý kiến của mọi người trong gia đình vì họ không có quyền tham gia quyết định.

Về hình thức của di chúc: Di chúc phải được lập thành văn bản, nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng (Điều 627 BLDS 2015).

1. Di chúc bằng văn bản bao gồm: (Điều 628 BLDS 2015)

– Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Người lập di chúc phải tự viết tay và ký vào bản di chúc. (Điều 633)

– Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào di chúc trước mặt những người làm chứng, những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc (Điều 634)

–  Di chúc bằng văn bản có công chứng:

– Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Di chúc bằng văn bản phải bảo đảm các nội dung sau (Điều 631 BLDS 2015):

– Ngày, tháng, năm lập di chúc;

– Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

– Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

– Di sản để lại và nơi có di sản;

– Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

Ngoài ra, di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

2.   Di chúc miệng (Điều 629 BLDS)

Điều 629 BLDS 2015 quy định di chúc miệng như sau:

 “1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ.”