Hành vi lập chứng từ khống rút tiền ngân sách

Nội dung bài viết:

Anh An làm chủ nhiệm Hợp tác xã (HTX hoạt động do ngân sách nhà nước cấp) từ tháng 8/2014 đến tháng 8/2015 thì nghỉ chuyển sang công tác khác. Trong thời gian làm chủ nhiệm hợp tác xã anh An cùng kế toán đã làm khống 1 số chứng từ để hoàn thiện hồ sơ gửi phòng nông nghiệp huyện duyệt quyết toán thì  mới được rút tiền về để hoạt động cho hợp tác xã. Việc khai khống 1 số chứng từ là để bù cho những khoản chi không có chứng từ hoặc không lấy được chứng từ và còn cả tiền đút cho phòng để họ duyệt hồ sơ, cho lãnh đạo xã… số tiền làm khống chứng từ khoảng hơn 100 triệu. Việc làm trên của anh An đều được công  khai với hội đồng quan trị và được hội đồng quản trị nhất trí. Mặt khác việc chi và khai khống chứng từ đều để cho tập thể không vì vụ lợi. Hợp tác xã của anh An được cấp hơn 500 triệu tuy nhiên trong thời gian anh An làm chủ nhiệm thì mới được rút hơn 400 triệu, số còn lại bàn giao cho người mới. Anh An có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay bị xử phạt hành chính? Những thành viên trong hội đồng quản trị có bị xử phạt không? Cơ quan công an có quyền thu tiền nộp phạt của An không?

 

Thứ nhất, anh An sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 quy định:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Hành vi của anh An có đủ các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định nêu trên:

Về mặt chủ thể, tại thời điểm thực hiện hành vi, An đang làm chủ nhiệm HTX nên An chắc chắn là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ và những thủ đoạn, cách thức An sử dụng cho thấy An không hề mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.

Về mặt hành vi của An xâm phạm quan hệ sở hữu mà Pháp luật hình sự mà cụ thể là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước.

Về yếu tố chủ quan, An thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý, bản thân An biết và buộc phải biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng để đạt những mục đích đặt ra thì An vẫn thực hiện hành vi vi phạm đến cùng. Không quan trọng mục đích thực hiện hành vi của An là vụ lợi cá nhân hay vì mục đích tập thể, pháp luật nghiêm cấm những hành vi này.

Về yếu tố khách quan, hành vi của An phù hợp với hành vi được miêu tả trong cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự 2015. Cụ thể, An đã chủ mưu và trực tiếp thực hiện các hành vi để làm khống chứng từ, đây là hành vi gian dối để qua mắt sự kiểm tra nhằm lấy được tiền từ ngân sách một cách “hợp pháp”. Đồng thời, giá trị tài sản chiếm đoạt thực tế là hơn 400 triệu cho đến khi A chuyển công tác đến cơ quan khác cũng thỏa mãn dấu hiệu về giá trị tài sản bị chiếm đoạt.

Từ những căn cứ trên, An hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 3,4,5 điều 174 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017. Đây là hành vi có tính nguy hiểm cao đối với xã hội, đồng thời gây ra thiệt hại rất lớn cho Nhà nước nên không thể xử lý hành chính với An.

Thứ hai: Những thành viên hội đồng quản trị có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này. Khoản 1 Điều 389 và điều 390 Bộ Luật hình sự 2015 quy định:

Điều 389. Tội che giấu tội phạm

1. Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:

b) Điều 123 (tội giết người); Điều 141, các khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 146, các khoản 2 và 3 (tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi); Điều 150, các khoản 2 và 3 (tội mua bán người);

Điều 390. Tội không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”

Về mặt khách thể, hành vi của những người này xâm phạm đến trật tự quản lý xã hội được Nhà nước bảo vệ, cụ thể, hành vi mang tính chất “tiếp tay” tội phạm, gây khó khăn cho công tác điều tra tội phạm.

Về mặt chủ thể, với tính chất công việc và cương vị là thành viên hội đồng quản trị hợp tác xã  đòi hỏi những người này phải có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ cũng như không mắc các bệnh dẫn đến mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Về yếu tố chủ quan, những người này đều thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, họ đều biết rằng hành vi của mình là vi phạm pháp luật những vấn cố ý thực hiện đến cùng hành vi của mình khi không khai báo với cơ quan chức năng cho đến khi vụ việc bị phát hiện.

Về yếu tố khách quan, như đã phân tích ở trên, chủ nhiệm hợp tác xã A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 4 điều 14 BLHS 2015, do đó, theo quy định tại khoản 1 điều 389 và điều 390 BLHS 2015 nêu trên thì những người có hành vi không tố giác hành vi của An có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 39 BLHS 2015. Các thành viên hội đồng quản trị HTX đều được An thông báo về việc thực hiện những chứng từ khống để rút tiền một cách bất hợp pháp từ ngân sách để sử dụng cho những mục đích cụ thể. Dù biết về hành vi phạm tội của An nhưng những người này không tố giác với Cơ quan chức năng qua đó cấu thành nên hành vi không tố giác tội phạm.

Thứ ba: An có thể bị áp dụng hình thức xử lý phạt tiền:

Theo quy định tại Điều 32 Bộ Luật hình sự thì phạt tiền vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung và theo nguyên tắc quy định tại khoản 3 điều 32 Bộ Luật hình sự thì: “Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.”

Điều 35 BLHS 2015 quy định về Phạt tiền như sau:

Điều 35. Phạt tiền

1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau đây:
a) Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định;
b) Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định.

2. Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy định.

Từ những quy định trên và những thông tin về tình huống thì trong trường hợp này, An có thể bị áp dụng hình thức phạt tiền với tính chất là một hình phạt bổ sung mang bản chất là khoản tiền “khắc phục hậu quả” cho hành vi của An. Mức phạt tiền sẽ được quyết định dựa trên hậu quả thực tế của hành vi A gây ra và những điều kiện nhân thân của An.