Hành vi đặt cược qua điện thoại bị kết án về tội đánh bạc

Tôi có tiến hành cá độ bóng đá qua điện thoại với Mèo trong hai trận bóng. Tôi đã bị công an triệu tập lấy lời khai. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa nhận được tiền thắng kèo. Vậy đặt cược qua điện thoại mà không dùng tiền hay hiện vật có giá trị thì có bị kết án đối với Tội đánh bạc được quy đinh tại điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hay không?

Vào khoảng 8h ngày 27/6/2016 Công an huyện có đến hạt mời tôi về trụ sở Công an làm việc vì có liên quan đến đường dây cá độ bóng đá bằng tiền, trong bản tự khai tôi có khai như sau:

“Vào khoảng 19h ngày 26/6/2016 Mèo(người cùng xóm) có nhắn tin cho tôi kèo trận Pháp và Iceland, khoảng 5- 10 phút sau tôi nhắn tin cho Mèo bắt kèo xỉu với số tiền 4 triệu đồng. Khoảng 8h 45phút, Mèo tiếp tục nhắn tin cho tôi kèo hiệp 2, tôi nhắn tin cho Mèo bắt kèo tài với số tiền 2 triệu đồng nhưng sau đó tôi phát hiện mình bắt nhầm kèo nên gọi điện cho Mèo hồi kèo nhưng không được, do Mèo đã gửi kèo đi rồi. Sau đó tôi bắt kèo ngược lại với số tiền 4 triệu đồng. Kết thúc trận, tôi thua 02 kèo xỉu 4+4= 8 triệu, trừ đi 2 triệu thắng kèo tài, còn lại tôi thua trận Pháp với số tiền 6 triệu đồng.

Khoảng 22h, Mèo lại nhắn tin cho tôi kèo trận Đức và Slovakia, tôi nhắn tin cho Mèo bắt kèo Đức với số tiền 10 triệu đồng ăn 8 triệu (vì Đức chấp ăn 8, tức là đặt kèo Đức 10 nhưng chỉ ăn được 8). Kết thúc trận tôi thắng được 8 triệu, trừ đi 6 triệu thua trận Pháp tôi được 2 triệu tiền thắng cược nhưng chưa chung chi bằng tiền mặt.”

Tôi và Mèo liên lạc với nhau bằng Điện thoại di động bằng cách nhắn tin và gọi điện. Ngày 26/6/2016 chúng tôi chỉ nhắn tin đặt cược chứ không dùng tiền mặt và tôi chưa nhận 2 triệu đồng tiền thắng cược. Công an điều tra chỉ lập biên bản và mời làm việc những người có trong danh sách ngày 26/6/2016, còn những người đặt cược trong những ngày khác không bị mời.

Hỏi: Đặt cược qua điện thoại mà không dùng tiền hay hiện vật có giá trị thì có bị kết án đối với Tội đánh bạc hay không?

 

“Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Theo Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP có giải thích đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng theo quy định trong giấy phép được cấp.

Như vậy, hành vi đánh cược của bạn dù là qua điện thoại và chưa nhận được tiền thì vẫn phải được xem xét theo quy định của Bộ luật hình sự về tội đánh bạc.

Hành vi cá độ bóng đá của bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP hoặc xử lý hình sự theo Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017. Việc bị xử phạt hành chính hay hình sự phụ thuộc vào giá trị tiền và hiện vật dùng để đánh bạc.

Theo Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP có quy định:

“2. Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau:

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;

b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó;

c) Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;

d) Trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật hình sự.”

Để xác định số lần đánh bạc thì dựa vào Điểm b Khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP như sau:

b) Trường hợp đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa… thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa… (để tính là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa… trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt. Trách nhiệm hình sự được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.

Ví dụ 1: Tại kỳ đua ngựa thứ 39, tổ chức vào ngày 15-7-2010, trong khoảng thời gian từ 9 giờ đến 11 giờ A đã cá độ ba đợt cụ thể là đợt một 500.000 đồng, đợt hai 1.000.000 đồng, đợt ba 2.000.000 đồng, trong trường hợp này chỉ coi A đã đánh bạc một lần trong kỳ đua ngựa đó với tổng số tiền là 3.500.000 đồng.

Ví dụ 2: Ngày 20-7-2010, trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 16 giờ, B mua ba số đề trong một lô đề cụ thể là: mua số 17 với số tiền là 500.000 đồng, mua số 20 với số tiền là 2.100.000 đồng, mua số 25 với số tiền 3.000.000 đồng; trong trường hợp này, chỉ coi B đánh bạc một lần.

Trong các trường hợp nêu tại ví dụ 1 và ví dụ 2 trên đây, nếu số tiền cá độ đua ngựa, số tiền mua số đề của mỗi đợt từ 2.000.000 đồng trở lên thì cũng không được áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.”

Để xác định giá trị đánh bạc cần dựa vào Khoản 5 Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP như sau:

“5.1. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc

a) Trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ.

Ví dụ: B mua 5 số đề với tổng số tiền là 100.000 đồng, tỷ lệ được thua 1/70 lần, trong đó có 4 số đề mua mỗi số 10.000 đồng, 1 số đề mua với số tiền 60.000 đồng, hành vi của B bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng, kết quả bóng đá, kết quả đua ngựa… và B đã trúng số đề mua với số tiền 60.000 đồng thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng + (60.000 đồng × 70 lần) = 4.300.000 đồng.

b) Trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ.

Ví dụ 1: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.1 khoản 5 Điều này, nếu B không trúng số nào thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng.

Ví dụ 2: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.1 khoản 5 Điều này, nếu hành vi của B bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng (không phụ thuộc vào việc khi có kết quả mở thưởng B có trúng số đề hay không trúng số đề).”

Như vậy, đối với trường hợp của bạn, bạn đã tham gia cá độ bóng đá thành 2 lần, lần 1 với trận Pháp và Iceland với số tiền là 12 triệu (10 triệu đặt cược cộng 2 triệu thắng kèo), lần 2 với trận Đức và Slovakia với số tiền là 18 triệu (10 triệu đặt cược cộng 8 triệu thắng kèo)

Như vậy, cả 2 lần tham gia cá độ, giá trị cá độ đều từ 2 triệu đến dưới 50 triệu đồng. Do đó, bạn sẽ bị xử lý hình sự theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại Điểm g, h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự với mức phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.