Giữ người trái pháp luật để đòi nợ

Câu hỏi:

Tôi có vay của anh Hà 70 triệu đồng để đầu tư nuôi tôm cá. Nhưng vừa rồi có đợt lũ lụt nên nhà tôi bị thiệt hại nặng nề, hiện chưa có khả năng trả tiền cho anh Hà đúng hạn. Hôm trước anh Hà bảo tôi qua nhà nói chuyện nhưng sau đó khi tôi đến thì anh khóa cửa không cho tôi về và bảo tôi phải gọi điện bảo vợ tôi mang trả trước cho anh 35 triệu thì mới thả tôi về. Tôi xin hỏi là việc anh Hà bắt tôi để đòi nợ như thế có phạm pháp không?

Trả lời:

Căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân được quy định tại điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự như sau:

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người.

Do đó, hành vi bắt bạn tại nhà riêng của anh Hà là trái pháp luật. Thẩm quyền quyết định việc bắt giữ người thuộc về Tòa án. Hành vi của anh Hà có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo quy định tại Điều 157 Bộ luật hình sự:

Điều 157. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người thi hành công vụ;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Làm cho gia đình người bị giam, giữ lâm vào tình trạng khó khăn, quẫn bách;

h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Làm người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật chết hoặc tự sát;

b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá nạn nhân;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật 46% trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tôi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thì anh Hà có thể sẽ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Những hành vi đòi nợ kiểu bắt giữ người trái pháp luật, đánh đập, dọa nạt, ép viết giấy vay nợ, v.v… là trái quy định của pháp luật và tùy vào từng mức độ, tính chất cụ thể của mỗi vụ việc có thể sẽ bị xử lý hành chính hoặc hình sự.

Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 (có hiệu lực từ 28/12/2013) “quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình” đã nêu cụ thể vấn đề này, đơn cử như sau: Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi “xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác” (điểm e khoản 3 Điều 5); Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi “dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản” (điểm c khoản 2 Điều 15).

Trường hợp hành vi nguy hiểm cho xã hội phải xử lý bằng hình sự thì có thể bị truy tố về một trong các tội danh tương ứng của Bộ luật Hình sự như:

+ Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 123 BLHS). Khung hình phạt thấp nhất là bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm và khung cao nhất là bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.

+ Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 BLHS) hoặc Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS). Tội cưỡng đoạt tài sản có mức hình phạt thấp nhất là 1 năm tù và cao nhất là 20 năm tù. Tội cướp tài sản có khung hình phạt thấp nhất là phạt tù từ 3 năm đến 10 năm và khung cao nhất là phạt tù từ 18 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

+ Trường hợp việc đánh đập dẫn đến gây thương tích cho người bị hại thì các đối tượng này còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104 BLHS). Khung hình phạt thấp nhất là bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm; khung cao nhất là phạt tù từ 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Tuy nhiên, cần lưu ý nguyên tắc của Bộ luật Hình sự là mỗi hành vi vi phạm chỉ xử lý một lần theo tội danh tương ứng.

Nếu trong một vụ việc, người phạm tội có nhiều hành vi hỗn hợp sẽ bị xử lý theo một tội danh nhất định, còn các hành vi khác nếu không đủ cấu thành một tội danh độc lập thì trở thành tình tiết định khung hoặc tình tiết tăng nặng đối với người phạm tội đó.