Đình chỉ vụ án vì rút đơn tố cáo

Nội dung câu hỏi:

Gần đây tôi có theo dõi 1 vụ án, cụ thể là anh Trần Văn Hưng đánh anh Trần Đình Quang dẫn đến thương tật 30%. Tuy nhiên, anh Trần Đình Quang lại rút đơn tố cáo sau đó cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân huyện phải đình chỉ vụ án. Xin hỏi luật sư cách giải quyết của các cơ quan chứng năng như vậy có đúng không?

 

Trả lời:

Về câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

Một người phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, sau đây là 02 trường hợp vụ án được đình chỉ giải quyết theo quy định mới nhất.

Trường hợp 1: Vụ án đình chỉ khi người bị hại rút đơn yêu cầu

Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chỉ khi người bị hại hoặc người đại diện (khi bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết) có yêu cầu thì người nào phạm 10 tội sau mới bị khởi tố:

– Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

– Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh;

– Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

– Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

– Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính;

– Hiếp dâm;

– Cưỡng dâm;

– Làm nhục người khác;

– Vu khống;

– Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp;

Nếu bị hại rút yêu cầu khởi tố, vụ án phải được đình chỉ. Tuy nhiên, nếu có căn cứ cho rằng việc bị hại hoặc người đại diện của người này rút đơn yêu cầu khởi tố do bị ép buộc, cưỡng bức thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng với vụ án này.

Lưu ý: Bị hại hoặc người đại diện của họ đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại trừ trường hợp bị ép buộc.

Việc người bị hại yêu cầu cũng là một trong các căn cứ để khởi tố vụ án nên việc người này rút đơn cũng được coi là một căn cứ để cơ quan có thẩm quyền không khởi tố vụ án.

Trường hợp 2: Đình chỉ vụ án khi không có căn cứ để khởi tố

Theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan có thẩm quyền sẽ không khởi tố vụ án nếu có một trong các lý do sau:

– Sau khi điều tra, xem xét các chứng cứ hoặc người bị tình nghi (người bảo vệ quyền và lợi ích của người bị tình nghi) đã chứng minh được người này không thực hiện tội phạm.

– Trên thực tế có hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không có các dấu hiệu để được coi là tội phạm (theo quy định tại Bộ luật Hình sự) thì không có căn cứ để khởi tố mà có thể chỉ dừng ở mức độ xử phạt hành chính.

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Theo đó, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Còn dưới 16 tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự bởi một số tội nhất định và không bị xử lý bằng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình (Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015).

– Đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật. Căn cứ tại Điều 14 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không ai bị kết án 02 lần vì 01 tội phạm. Do đó, khi đã có quyết định, bản án đình chỉ vì 01 hành vi thì cơ quan có thẩm quyền sẽ không ra một quyết định, bản án nữa để đình chỉ về cùng hành vi này.

– Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: Theo quy định tại Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn mà một người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Nếu hết thời hạn này thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội sẽ không bị truy cứu nữa.

– Tội phạm đã được đại xá.

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm đã chết, trừ khi tái thẩm với người khác.

Ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể sau đây, vụ án cũng sẽ được đình chỉ:

– Một người đang thực hiện hành vi trái pháp luật thì dừng lại nửa chừng, khiến hậu quả chưa xảy ra, không đạt được mục đích phạm tội (Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015).

–  Khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015.

–  Căn cứ vào Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại như sau:

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

Như vậy, cách giải quyết của cơ quan chức năng là đúng, vụ án phải được đình chỉ bởi lý do: Hiện nay Đơn tố cáo của người bị hại cũng chính là yêu cầu khởi tố vụ án. Do đó, trong trường hợp này vụ án phải được đình chỉ. Tuy nhiên cần chú ý rằng nếu như người bị hại tức anh Trần Đình Quang rút đơn yêu cầu khởi tố do bị ép buộc, cưỡng bức thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.