SIMULATION (n) : sự giả tạo, sự giả vờ, sự man trá, sự giả trang.
Đây là trường hợp các bên giao kết lập một hợp đồng nhằm công bố cho người thứ ba biết nhưng lại không phù hợp với ý chí thực sự của mình nhằm để che đậy một hợp đồng bí mật và chỉ có hợp đồng bí mật mới phản ánh ý chí thực sự của các bên giao kết và họ mới thực sự có ý định tôn trọng- xem Contrat/Contrat secret (tập I)- Action/Action en déclaration de simulation (tập II).
SOL (n) : đất (đã được xác định) .
Attribution du sol : sự cấp đất, sự giao đất- xem Terrain/Attributation des terrains par l’État (tập I).
Certificat du droit d’usage du sol: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng.
Droit d’usage du sol : quyền sử dụng đất.
Enregistrement du droit d’usage du sol: việc đăng ký quyền sử dụng đất.
Đăng ký quyền sử dụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác định vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Fondement du droit d’usage du sol : căn cứ xác lập quyền sử dụng đất.
Vì đất đai thuộc sở hữu Nhà nước và do Chính phủ thống nhất quản lý nên quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập bởi Nhà nước dưới hình thức giao đâït, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất. Quyền sử dụng đất của các chủ thể nói trên cũng được xác lập thông qua việc chuyển quyền sử dụng đất với điều kiện việc chuyển quyền này được thực hiện theo đúng các quy định hiện hành (điều 688 BLDS 2005).
Location du sol : sự thuê đất- xem Terrain (tập I).
Prix du droit d’usage du sol: giá trị quyền sử dụng đất- gọi tắt là giá đất (Prix du sol).
Giá trị quyền sử dụng đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất.
Tranfert du droit d’usoage du sol : việc chuyển giao quyền sử dụng đất.
Việc chuyển giao quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng trừ trường hợp thừa kế (điều 689 BLDS 2005).
Usager du sol : người sử dụng đất.
Người sử dụng đất theo Luật đất đai 2003 bao gồm:
- Các tổ chức (theo quy định của Chính phủ);
- Hộ gia đình, cá nhân trong nước;
- Cộng đồng dân cư được gắn chặt với nhau trên cơ sở địa lý hoặc có chung dòng họ;
- Cơ sở tôn giáo;
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao;
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư, hoạt động văn hoá, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định ở Việt Nam;
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Utilisation du sol : việc sử dụng đất.
Việc sử dụng đất phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
- Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất;
- Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chung của người sử dụng đất xung quanh;
- Người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai 2003 và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
SOLIDARITÉ (n) : tính liên đới (của nghĩa vụ))- xem Obligation/Obligation solidaire (tập I).
Solidarité active (Solidarité entre les créanciers): sự liên đới có tính chủ động của các bên có quyền.
Trong trường hợp này mỗi một bên có quyền (chủ nợ) có quyền đòi bên có nghĩa vụ (con nợ) phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ (trả toàn bộ món nợ).
Vấn đề này được BLDS 2005 quy định tại điều 299 theo đó:
- Mỗi người trong số những người có quyền đều có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ nghĩa vụ;
- Bên có nghĩa vụ có thể thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bất cứ ai trong số những người có quyền liên quan;
- Trong trường hợp một trong số những người có quyền liên đới miễn cho bên có nghĩa vụ không phải thực hiện phần nghĩa vụ đối với mình thì bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện phần nghĩa vụ còn lại đối với những người có quyền liên đới khác.
Sự liên đới này đươc đồng hóa như một hình thức uỷ quyền của các người đồng có quyền. Trên thực tế trường hợp này rất hiếm xảy ra bởi khi nhiều người giao kết với một bên có nghĩa vụ (con nợ) thường họ không có bất cứ một lợi ích nào để quy định rằng một trong họ có thể buộc bên có nghĩa vụ (con nợ) phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.
Solidarité passive (Solidarité de la part des débiteurs) : sự liên đới có tính thụ động của các bên có nghĩa vụ.
Đây là trường hợp bên có quyền có thể đòi thực hiện nghĩa vụ từ bất cứ người có nghĩa vụ nào. Trường hợp này thông thường xảy ra và tạo lập cho bên có quyền một sự bảo đảm trong trường hợp một trong các bên có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Vấn đề này được BLDS quy định tại điều 298- xem Obligation/Obligation solidaire (tập I).
Theo BLDS Pháp “Có sự liên đới giữa những người có nghĩa vụ nếu họ có nghĩa vụ đối với cùng một đối tượng làm cho mỗi người đều có thể phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ và khi một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì những người có nghĩa vụ kia hết trách nhiệm đối với người có quyền”- điều 1200. Cũng theo BLDS Pháp điều 1202 quy định rằng “Sự liên đới không thể được suy đoán mà phải được quy định rõ ràng. Quy định này chỉ không được áp dụng trong trường hợp sự liên đới diễn ra đương nhiên theo quy định của luật pháp”. Mặt khác luật cho phép “Việc kiện một người trong số những người có nghĩa vụ liên đới không ngăn cản người có quyền kiện những người có nghĩa vụ kia”- điều 1204 BLDS Pháp đồng thời “Việc kiện một trong những người có nghĩa vụ liên đới làm gián đoạn thời hiệu với tất cả những người kia”- điều 1206 BLDS Pháp.
Luật sư TÔN THẤT QUỲNH BẰNG


Trả lời với trích dẫn