III. LÃNH VỰC ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI
III.1. Vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng
III.1.1.Nguyên tắc một vợ một chồng

Người đang có vợ hoặc đang có chồng bị cấm kết hôn với người khác (37). Theo hướng dẫn của của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (mục 1 điểm c tiểu điểm c.1. Nghị quyết số 02/2002/NQ-HĐTP) thì “người đang có vợ có chồng” được hiểu là:
1. Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa li hôn.
2. Người đang chung sống với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn (tái khẳng định tại khoản 3 điểm a NQ 35/2000/QH10 của Quốc Hội).
3. Người chung sống với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng kí kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày nghị quyết này có hiệu lực cho đến 01/01/2003).
Vì vậy những người được nêu trên chỉ được kết hôn nếu ở tình trạng không tồn tại hôn nhân này.
Như vậy nếu có một hôn nhân thứ hai đối với các người nói trên thì việc kết hôn lần sau xem như là kết hôn trái pháp luật. Nếu vi phạm nguyên tắc này không những việc kết hôn bị tuyên bố là kết hôn trái pháp luật mà người liên quan còn vị xử phạt về hành chính hay bị truy cứu về mặt hình sự (38). Nhưng chúng ta cũng cần lưu ý việc chung sống như vợ chồng của người đã kết hôn với một người khác chỉ bị xử phạt hành chính hay bị truy cứu về mặt hình sự với tội danh “vi phạm chế độ một vợ, một chồng” vì pháp luật không công nhận cuộc sống này là hôn nhân thực tế mà chỉ gọi đó là quan hệ như vợ chồng trái pháp luật; vì vậy người vợ/chồng của hôn nhân chính thức không thể khởi kiện nhằm xin “tiêu hủy hôn nhân trái pháp luật này…” đối với quan hệ thứ hai.
III.1.2. Ngoại lệ của nguyên tắc một vợ một chồng: những quan hệ hôn nhân được xác lập trước ngày 25/3/1977
Ngoại lệ của nguyên tắc một vợ một chồng được pháp luật công nhận đối với những cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc mà lấy vợ, lấy chồng khác thì hôn nhân sau vẫn có hiệu lực (39) dù rằng việc công nhận này chủ yếu về phương diện thừa kế.

III.2. Vi phạm quan hệ huyết thống hay thân thuộc
Luật hôn nhân gia đình Việt Nam cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời
- Những người cùng dòng máu trực hệ là cha mẹ đối với con, ông bà đối với cháu nội ngoại.
- Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất, anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú, con bác, con cô, con dì là đời thứ ba . Vì vậy luật cấm kết hôn giữa anh chị em ruột với nhau; giữa chú ruột, bác ruột, cậu ruột với cháu gái giữa cô ruột, dì ruột với cháu trai; giữa anh chị em con chú, con bác, con cô, con dì với nhau và hôn nhân giữa những người này là hôn nhân trái pháp luật. Luật cũng cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (điều 10 điểm 3, điểm 4; điều 8 điểm 12, điểm 13 LHNGĐ 2000; mục 1 điểm c tiểu điểm c.4 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP; điều 24 Luật nuôi nhận con nuôi). Nếu vi phạm nguyên tắc này không những việc kết hôn bị tuyên bố là kết hôn trái pháp luật dẫn đến việc tiêu hủy mà người liên quan còn vị xử phạt về hành chính hay bị truy cứu về mặt hình sự (41).

Trong thực tiễn vấn đề kết hôn giữa con riêng của chồng và con riêng của vợ, giữa những người con nuôi hoặc giữa con đẻ với con nuôi trong một gia đình chưa từng được dự liệu trong luật viết là một thực tế cần quan tâm. Các chủ thể trên là anh chị em trong gia đình, nhưng giữa họ lại không có quan hệ huyết thống và không có quan hệ họ hàng, vậy nếu phát sinh việc kết hôn với nhau thì giải quyết ra sao ? Về mặt đạo đức chúng ta không thể hoặc khó chấp nhận con riêng của vợ với con riêng của chồng, các người con nuôi của cùng cha mẹ nuôi hoặc con đẻ với con nuôi kết hôn với nhau, mặc dù về huyết thống không có ảnh hưởng tiêu cực cho nòi giống. Khi hai người kết hôn thuộc diện các đương sự vẫn yêu cầu đăng ký kết hôn thì luật pháp có xem đây là trường hợp kết hôn trái pháp luật hay không? (42)

Mặt khác, có vẻ như các mối liên hệ được ghi nhận tại các điều luật trên là những mối liên hệ hợp pháp, được xác lập đúng luật. Vấn đề được đặt ra nếu các quan hệ gốc bị hủy bỏ (chứ không phải chấm dứt) do đã được lập trái pháp luật, thì liệu các quan hệ hình thành như là hệ quả của quan hệ gốc cũng bị xóa bỏ? Ví dụ một người con trai đã có vợ kết hôn với một người phụ nữ khác; hôn nhân sau bị hủy; liệu người cha của người con trai đó trong điều kiện đang góa vợ có thể kết hôn với người phụ nữ đã có cuộc hôn nhân trái pháp luật với con trai mình (43)?

Luật sư TÔN THẤT QUỲNH BẰNG

(37) điều 64 Hiến pháp 1992; đoạn 1 điều 39 Bộ luật dân sự; điều 2 khoản 1, điều 4 khoản 2, điều 10 khoản 1 LHNGĐ 2000.
(38) Điều 8 NĐ 87/2001/NĐ-CP đã dẫn; điều 147 BLHS; Bình luận khoa học BLHS của TS Phùng Thế Vắc- Sách dã dẫn tr.236.
(39) Nghị quyết …./NQ-CP; Thông tư số 60/TATC ngày 22/2/1978 của TANDTC; Nghị quyết 02-HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
(40) Điều 80, điều 82 BLDS 2005. Điều 26 LHNGĐ 2000 quy định rằng khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người đã chết thì quan hệ hôn nhân được phục hồi nếu người vợ hay người chồng của người bị tuyên bố chết chưa kết hôn với người khác; suy diễn ngược lại thì phải hiểu là hôn nhân đã chấm dứt. Điều 132 BLDS Pháp lại xác định rõ “Hôn nhân của người mất tích bị chấm dứt, ngay cả khi bản án tuyên bố mất tích đã bị hủy.
(41) Điều 8 NĐ 87/2001/NĐ-CP đã dẫn; điều 150 BLHS; Bình luận khoa học BLHS của TS Phùng Thế Vắc- Sách dã dẫn tr.236.
(42) Một số điều kiện về kết hôn trong LHNGĐ 2000 của Ts Chu Hải Thanh- Tạp chí Nghề luật số 01/2008
(43) Bình luận khoa học LHNGĐ Việt Nam của Nguyễn Ngọc Điện- Sách đã dẫn- trang 71.